Thầy Paseh Đàng Lanh - chức sắc người Chăm Bà La Môn ở xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa lật giở từng trang tiểu kinh viết trên những tờ lá buông do ông chế tác.
Những chiếc lá dài phẳng tắp, dẻo dai, được đóng thành tập ngay ngắn, xâu lại với nhau bằng sợi chỉ và đóng thành tập ngay ngắn giữa hai bìa gỗ bảo vệ.
“Dù ngày nay có giấy, tôi vẫn muốn giữ được nét văn hóa của mình. Mình có điều kiện mình làm. Hồi xưa không có mà người ta làm được. Nó vô cùng ý nghĩa, mình phải nên giữ gìn”. – Ông Đàng Lanh chia sẻ.
Giữ gìn văn hóa Chăm Bà La Môn truyền thống – đó là tình yêu nuôi dưỡng trong thầy Paseh Đàng Lanh quyết tâm giữ gìn nét chữ trên sách lá buông.
Từ xa xưa, trong điều kiện chưa có giấy in hiện đại, nghệ nhân dân gian đã phát hiện công dụng tuyệt vời của lá buông là ghi chép chữ. Để rồi, họ lưu giữ vào đó những nếp sống, những tri thức và tín ngưỡng của người Chăm Bà La Môn.
Để lá có thể viết được, người ta phải chọn là vừa phải, không quá non, không quá già. Sau khi hái về người ta phải phơi độ 3 – 4 nắng. Tiếp đó đem luộc rồi lại phơi và ép ván cho lá thật phẳng.
Ông Đàng Lanh bảo, khi chưa có bàn ủi, để tránh lá cong khi viết, người Chăm Bà La Môn sẽ lấy ván đè lên lá. “Họ làm một tấm ván thật là bằng phẳng, rồi bắt đầu họ mới đè. Cơ bản là mình muốn lấy cho nó được cái mặt phẳng, cho nó thẳng đi, chứ không khéo thì lá buông nó sẽ bị cong.
Để có một cuốn sách lá buông chịu được thử thách của thời gian, đồng bào phải tuân thủ một quy trình chế tác nghiêm ngặt. Qua những lần phơi, luộc, phơi, rồi ủi phẳng như thế họ mới bắt đầu cắt lá ngay ngắn để tiến hành làm sách.
Anh Bá Văn Quyến, cán bộ Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa cho biết: “Sách lá buông được cắt thành hình chữ nhật. Chiều rộng tầm 2 phân, chiều dài khoảng 25 – 40 phân, tùy loại. Sau đó, họ sẽ khoan lỗ, xâu sợi dây vào thành một cuốn. Cuối cùng lấy hai tấm ván gỗ chiều dài tương tự áp ngoài cùng thành bìa sách.
Người Chăm Bà La Môn không dùng bút mực thông thường viết sách lá buông. Họ “viết” bằng lưỡi dao kim loại vót đặc biệt.
Thân bút được làm bằng gỗ, vót tròn, vừa tay. Ngòi bút là lưỡi kim loại nhỏ mài sắc. Nghệ nhân sẽ dùng lực tay vừa đủ khi cầm để ghi chép chữ trên lá buông.
Họ dùng bút viết thật chậm để tạo nét, sử dụng lực tay thật khéo để chỉ làm rách lớp biểu bì mặt trên của lá chứ không làm đứt lá. Viết xong chữ, họ mới tiến hành đổ mực để lớp chữ hiện hình trên giấy.
“Người ta mài mực rồi quét quay lên trên những dòng chữ đó. Phết xong xuôi, họ bắt đầu sử dụng một loại bông, nôm na là cái bông gòn gì cũng được hết đó. Người ta mới thấm vào trong cái rượu đấy, người ta mới chà lại cho nó sạch hết những vết mực mà nó dính tèm lem đấy. Những chỗ nào mà rách thì mực sẽ thấm vào những cái nét mà người ta đã viết rồi. Như vậy là nó sẽ nổi lên cái màu đen”. – Ông Đàng Lanh cho hay.
Còn anh Bá Văn Quyến chia sẻ, khi chưa có mực, bà con phải lấy vỏ cây rừng chế thành.
“Lúc trước chưa có mực, người ta đi lên rừng lấy vỏ của cây gõ. Rồi sau đó người ta sẽ nung với da trâu. Nó keo thành cao. Khi người ta muốn viết chữ, người ta sẽ chế một ít rượu vô. Sau đó người ta sẽ lấy thanh tre vót nhọn và người ta chấm vô và người ta viết lên những dòng chữ này”. – Anh Quyến nói.
Từng trang sách lá buông ra đời không chỉ mang giá trị thông tin, mà còn chứa đựng mồ hôi, tâm huyết, sự tinh tế và lòng thành kính của người viết.
Những bộ sách lá buông sau khi hoàn thiện mang một ý nghĩa tâm linh vô cùng thiêng liêng. Các chức sắc Chăm Bà La Môn chép kinh trong đó, có những thư tịch lưu giữ những tập trường ca Ariya, bài hát lễ, thiên văn lịch pháp xem ngày lành tháng tốt. Đặc biệt, có những tập gia huấn răn dạy con cháu sống theo lễ đạo.
Những cuốn sách lá buông ấy được các nhà nghiên cứu xem đó như “bách khoa thư” tộc người.

Viết bình luận