Trong tâm thức của mỗi người con xứ Mường như chị Bùi Thị Thảo, hình ảnh quê hương không chỉ có nếp nhà sàn vương khói bếp. Đó còn là sắc trắng của bông, sắc vàng óng của kén tằm bên khung dệt, là những bãi bồi, nương dâu xanh ngút ngàn…
Chị Thảo bộc bạch: “Lúc nào trong tâm thức của tôi khi nghĩ về gia đình, nghĩ về quê hương, hoặc tôi về nhà thăm quê, cứ đến bờ ao, đến cái đoạn đường này, đến cái lùm cây chuối kia bao giờ cũng hiện lên những nương dâu, những bờ rào bằng cây dâu tằm. Đấy là những nơi mà ngày xưa chúng tôi cứ đi học về, buổi chiều là mẹ bảo mang rổ đi hái lá dâu cho tằm ăn. Không bao giờ quên, kể cả đến bây giờ, trong tôi vẫn ký ức đấy, vẫn nhớ về quê”.
Nếu cây bông cần nắng, con tằm lại cần sự mát mẻ của mùa mưa. Với người Mường, mùa hè tầm tháng 6, tháng 7 là một mùa bận rộn. Đó là lúc lá dâu xanh mướt và những nong tằm "ăn rỗi". Khi ấy, ở người thợ nuôi tằm cần nhất là sự thấu hiểu tâm tính của một loài sinh vật nhạy cảm.
“Mùa mưa tầm tháng 6, tháng 7 dương lịch là mùa có nhiều lá dâu. Và nhà nào cũng có. Người ta làm giàn lên như cái giàn mình trồng khoai tây ấy. Có nhà đến 4-5 tầng. Toàn cái mẹt để nuôi tằm. Đặt ở dưới sân thôi chứ không đặt trên nhà. Ban tối đi ngủ lấy mẹt úp lại để tằm khỏi bỏ đi. Cây dâu thì nó dễ thôi. Cắm xuống là nó sống. Nhưng mà con tằm này khi nó đang là con sâu, nó chưa thành kén, mình không khéo, mình không biết chăm, hoặc là tằm nó mắc bệnh. Vào mùa lạnh, hái lá nhiều sương, nó chưa khô lá, nếu cho tằm ăn, tằm sẽ bị đường ruột. Tằm sẽ chết. Thế là cũng hỏng đấy. Không đơn giản đâu”. - Chị Bùi Thị Thảo kể.
Tằm trưởng thành là con ngài có màu trắng xám. Khi ngài đẻ trứng, người thợ sẽ bọc giấy cho vào nong nhỏ treo cao nuôi bằng lá dâu đến hết thời kỳ tằm ăn rỗi. Rồi tằm kéo kén và người ta mang kén đi luộc.
Trên mặt kén lại có chất keo dính các sợi tơ lại với nhau, cho nên người ta bỏ kén vào chậu nước nóng để tơ trở nên mềm mại.
Rút những nhánh tơ trong kén ra, chập lại với nhau cuốn trên ống hợp thành một sợi chỉ. Những sợi chỉ tơ trên ống cuốn lại thành một bó tơ sống. Từ 10 – 12 sợi tơ mảnh, xe lại với nhau được gọi là một sợi chỉ tơ.
Bạn biết không, từ xa xưa để có được những sắc màu sặc sỡ cho từng sợi chỉ, người Mường đã lấy nguyên liệu mộc mạc từ rừng. Sắc vàng từ nghệ, sắc tím từ cây cẩm tím, sắc xanh từ củ giềng hay cây lớc mớc, sắc nâu từ lá chàm...
Ông Bùi Tiến Xô bảo, muốn màu gì đều có cây rừng nhuộm tương ứng. Nhưng với chàm là phải cắt áo, may xong mới nhuộm.
“Trên này nhuộm chàm là cây lớc mớc đấy. Nó không bao giờ phai. Lấy lá về vò hết rồi ngâm nước, sau đó lọc bằng tro. Có 1 cái thùng tro và họ đan 1 cái giọ như giọ lợn ấy. Thế là để bên ngoài để đổ nước chảy tong tong, lọc qua cái ấy. Lọc 1 lần, mỗi lần được 1 chậu, giặt được khoảng 3 – 4 cái chăn. 1 lần được 1 chậu. Thì giặt được khoảng độ là 3, 4 cái chăn. Tỷ mẩn, công phu lắm. Giặt xong rồi phơi. Phơi khô lại giặt. Lại quy trình tương tự 2 lần nó ăn màu. Các cụ làm là kiên trì lắm”. – Ông Bùi Tiến Xô cho biết.
Khi đã có sợi, công đoạn khó nhất là đưa sợi lên khung. Nếu tận mắt thấy khung dệt của người Mường, bạn sẽ tò mò, giữa cả trăm sợi chỉ giăng mắc trên khung, làm sao nghệ nhân có thể nhớ và phối hợp dệt một cách thuần thục. Ông Bùi Tiến Xô lý giải: đó là kỹ thuật dùng “lớp đệm” cực kỳ thông minh của nghệ nhân dân gian Mường.
“Cái khung co đấy xỏ từng cái một. Các cụ làm nhanh lắm. Cứ lấy cái que là gẩy rồi bắt đầu đưa vào. Nó quấn vào một cái cụm. Cái ống quấn của cái cụm đấy, quấn to, đường kính nó phải 20 thì quấn nó mới nhanh. Nó đều như thế. Mà cứ quấn một lượt, bắt đầu lại có cái vỏ của cây tre đấy. Họ để bên ngoài, từng lớp một nó đệm vào. Lại quấn tiếp, lên khung cửi mới dệt. Không rối”. – Ông Bùi Tiến Xô cho biết.
Để tạo hoa văn, các nghệ nhân phải biết cách xỏ co một cách điêu luyện bởi đây là phần khó nhất khi tạo ra khung dệt. Co là một bộ phận được cài vào các đường chỉ. Xỏ co là nhấc co lên rồi luồn vào các đường chỉ ngang để tạo ra hoa văn.
Khi dệt chỉ màu, để tạo ra hiệu ứng thị giác đặc trưng, họ dùng số lượng sợi chỉ điều tiết độ đậm, nhạt của màu sắc.
Chị Bùi Thị Thảo cho biết: Trong khung cửi này, mình muốn dệt được vải mình phải có những cái thoi với các loại chỉ màu được cho vào từng thoi một. Khi mình ngồi vào dệt là chân mình phải đạp theo. Thoi từ bên phải thì chân phải đạp, mà luồn thoi từ bên trái thì chân trái đạp. Đồng thời, một tay thì nhấc cái khung lên để mình lèn sợi cho chặt, cho sợi chỉ nó dính vào với nhau. Chúng tôi thường hay lấy màu đỏ làm nền. Vì thế, sợi chỉ khi dệt vào, chỉ đỏ bao giờ nó cũng phải làm nhiều lên. Ví dụ sợi chỉ xanh chỉ khoảng 2-3 sợi thôi. Sợi chỉ tím, chỉ vàng 3 sợi. Nhưng riêng sợi chỉ đỏ chúng tôi phải làm đến 6 sợi để mảnh vải tổ cầm nổi màu sặc sỡ”.
Để tạo ra những hoa văn phức tạp như vậy người thợ phải tạo rất nhiều co. Tùy vào từng loại hoa văn mà khi dệt người thợ nhấc co lên xuống cho phù hợp. Hình con rồng có 32 co, hình quả trám có 7 co… Họ phải nhấc co theo hình đã chọn để đưa thoi cho đúng. Nếu nhấc co sai sẽ không thành hoa văn theo ý muốn.
Trong khi việc ngồi dệt cần sự nhịp nhàng của tay và chân, thì "xỏ co" và "cài hoa văn" lại cần một bộ óc tính toán cẩn thận.
Chị Phùng Thị Lan cười nói: “Các chị, các mẹ làm mãi tay quen, nói chung là chỉ nhìn tầm mắt thôi chứ không có bài bản học hành nào, làm bằng kinh nghiệm là chủ yếu. Đến cái luồn tay mây che đan như bây giờ, không cần nhìn vẫn luồn được, vẫn làm được. Quen đến mức độ như thế mà. Nó nhuần nhuyễn rồi, thuần thục rồi. Nhớ trong đầu hết”.
Nghề dệt gắn liền với cuộc đời người phụ nữ Mường. 12-13 tuổi, họ đã ngồi vào khung cửi, dệt chăn cho cả gia đình. Qua nhịp thoi đưa, hoa văn hiện lên là cả một tâm hồn phong phú của những người phụ nữ đảm đang, khéo léo.

Viết bình luận