Khác với những cuộc hôn nhân sắp đặt thuở trước, những chàng trai, cô gái Nùng ngày nay tự do tìm hiểu và trao gửi tình cảm giữa nhịp sống rộn rã của bản làng. Tình yêu của họ nảy nở trên những triền nương, dưới thửa ruộng bậc thang, hay qua ánh mắt đưa duyên ở mỗi phiên chợ mờ sương và những cuộc vui ngày lễ, tết. Khi hai trái tim đã chung nhịp đập, quá trình đi đến hôn nhân của người Nùng bắt đầu bằng một chuỗi những nghi lễ vô cùng chặt chẽ, tinh tế và mang đậm chiều sâu văn hóa dân tộc.
Chàng trai khi muốn ngỏ lời sẽ cậy nhờ bố mẹ đẻ chọn ông bà mối sang nhà gái. Đây không chỉ là những người khéo ăn nói mà phải có uy tín lớn trong dòng họ, am tường sâu sắc phong tục tập quán. Hành trình để hai họ chính thức kết thân phải đi qua tuần tự các bước: dạm ngõ (lễ hỏi dặm), ăn hỏi, định ngày và cuối cùng là lễ cưới. Trước khi chốt ngày lành tháng tốt, một thủ tục mang tính tâm linh không thể bỏ qua là lễ so tuổi (xem lá số). Người Nùng tin rằng, vợ chồng có tương sinh, hợp bản mệnh thì nếp nhà sau này mới êm ấm, tài lộc vượng phát.
Đám cưới của người Nùng thường kéo dài hai ngày, được phân chia rạch ròi: nhà gái thiết đãi họ hàng trước, hôm sau nhà trai mới tổ chức tiệc và đi đón dâu. Tại nhà trai, một quy tắc bất di bất dịch được giữ gìn là toàn bộ quan viên hai họ chỉ được phép ngồi vào mâm cỗ khi tận mắt chứng kiến cô dâu bước qua cổng.
Sính lễ ngày nay dẫu không còn nặng nề việc thách cưới như xưa, nhưng những vật phẩm mang tính biểu tượng thì chưa từng mai một. Mâm sính lễ truyền thống luôn phải có lợn quay vàng rộm nhồi lá mắc mật nguyên con, gánh xôi đỏ rực rỡ, những vò rượu men lá cay nồng và các loại bánh trái đặc trưng. Đổi lại, nhà gái cũng chuẩn bị chu đáo của hồi môn cho con gái về nhà chồng, từ chăn ga, gối đệm, trạm bát cho đến xe máy hay vốn liếng làm ăn.
Ngày đón dâu là một bức tranh sinh động của âm thanh và sắc màu. Đoàn nhà trai khởi hành đúng giờ đã hẹn, dẫn đầu bởi một cặp vợ chồng làm trưởng đoàn. Điểm tinh tế trong cách chọn người là cặp đôi này phải song toàn: gia đình êm ấm, con cái đủ đầy, am hiểu lệ làng và đặc biệt phải có tài hát ví von. Trước cổng nhà gái, những làn điệu Sli, Cỏ lảu mộc mạc sẽ được cất lên để xin mở cổng, xin bước lên cầu thang và xin chỗ ngồi.
Theo lời kể của ông Đoàn Văn Phòng ở xã Tân Đoàn (tỉnh Lạng Sơn), đoàn rước dâu của nhà trai bắt buộc phải đi theo số chẵn, thường là 12 người, mang theo hàm ý về sự vẹn toàn, có đôi có cặp. Ông mai, bà mối đi đầu, tay cầm chiếc ô đen đặc trưng làm tín vật. Muốn qua được dải lụa đỏ giăng trước cổng nhà gái, ông mối phải trao phong bao 12 nghìn đồng tiền "mở cửa". Chưa dừng lại ở đó, mỗi thành viên đoàn nhà trai phải cạn một bát rượu nhỏ ngay trước thềm. Ai tửu lượng kém phải nhờ người uống hộ, nếu không sẽ phải chần chừ ngoài bậu cửa rất lâu. Tất cả lễ vật từ nhà trai đem đến hay của hồi môn nhà gái đưa về cũng đều do hai người cùng khiêng, tuyệt đối không để số lẻ.
Khoảnh khắc cô dâu rời khỏi nhà mẹ đẻ chứa đựng những kiêng kỵ rất thiêng liêng. Cô dâu được che kín mặt, che ô đàng hoàng và tuyệt đối không được tự bước chân qua bậc cửa. Phải có người cõng cô dâu ra khỏi nhà, bởi người Nùng quan niệm nếu tự bước đi, người con gái sẽ vô tình kéo theo gia tài, vượng khí của nhà ngoại về nhà chồng, khiến nhà ngoại làm ăn không phát đạt.
Dưới nếp nhà, bộ trang phục ngày cưới của cô dâu người Nùng hiện lên đầy kỳ công. Vải mộc nhuộm chàm được miết bóng óng ả trên những phiến đá xanh. Từng đường kim mũi chỉ thêu trên viền cổ áo, ống tay, đầu khăn và mặt hài đều là tâm huyết của người bà, người mẹ. Nét chấm phá rực rỡ nhất trên nền áo chàm là dải lụa đỏ. Cô dâu thắt hai dải lụa chéo nhau trước ngực, trong khi phù dâu chỉ thắt một dải. Dàn thiếu nữ đưa dâu cũng được tuyển chọn kỹ lưỡng, phải là những người bạn thân chưa chồng, nết na, hiền thục.
Hành trình rước dâu xưa kia gắn liền với hình ảnh chú rể dắt ngựa đưa vợ qua những con suối, con đèo để chân không vương nước. Nay dẫu đường nhựa, cầu bê tông đã trải khắp các bản làng, nhưng tinh thần tôn trọng vợ trong lễ rước vẫn còn nguyên vẹn. Tại xã Khâu Vai (tỉnh Tuyên Quang), ông Lương Văn Hùng cho biết, khi về tới nhà trai, cô dâu phải là người bước vào nhà và bước vào buồng hạnh phúc trước chú rể. Người Nùng tâm niệm, con trai vốn có bản tính gia trưởng, việc để vợ bước vào trước là cách hạ bớt cái tôi của người đàn ông, trao cho người vợ sự quán xuyến, tiếng nói và uy quyền để giữ gìn hòa khí, giúp nếp nhà thêm ấm êm, cân bằng.
Khi những rộn rã của ngày cưới khép lại, khoảng hai đến ba ngày sau, đôi vợ chồng trẻ sẽ chuẩn bị xôi, gà luộc và vò rượu ngon quay trở về nhà gái làm lễ "Pây slao" (lễ lại mặt). Bữa cơm quây quần này là lúc cô dâu chú rể chính thức tạ ơn công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, đồng thời buộc chặt thêm sợi dây tình cảm đằm thắm, gắn kết đời đời giữa hai dòng họ./.

Viết bình luận
Tin liên quan
Đám cưới người Nùng: Giữ phong tục giữa nhịp sống hiện đại
[VOV4] - Dù nhiều thủ tục trong đám cưới truyền thống đã thay đổi để phù hợp với đời sống hiện nay, người Nùng vẫn duy trì những nghi lễ cốt lõi như xin lá số, lễ ăn hỏi và lễ cưới. Cùng với đó, những phong tục, lời hát và nghi thức trong ngày cưới tiếp tục được trao truyền qua các thế hệ.
Đám cưới người Nùng: Giữ phong tục giữa nhịp sống hiện đại
[VOV4] - Dù nhiều thủ tục trong đám cưới truyền thống đã thay đổi để phù hợp với đời sống hiện nay, người Nùng vẫn duy trì những nghi lễ cốt lõi như xin lá số, lễ ăn hỏi và lễ cưới. Cùng với đó, những phong tục, lời hát và nghi thức trong ngày cưới tiếp tục được trao truyền qua các thế hệ.
Người Nùng An biến di sản thành sinh kế
[VOV4] - Từ nghề làm giấy bản truyền thống, người Nùng An ở xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng đang tạo thêm sinh kế từ du lịch cộng đồng. Khi nghề gia truyền trở thành sản phẩm trải nghiệm, di sản không chỉ được gìn giữ mà còn tạo thêm thu nhập và mở ra hướng phát triển ngay tại bản làng.
Người Nùng An biến di sản thành sinh kế
[VOV4] - Từ nghề làm giấy bản truyền thống, người Nùng An ở xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng đang tạo thêm sinh kế từ du lịch cộng đồng. Khi nghề gia truyền trở thành sản phẩm trải nghiệm, di sản không chỉ được gìn giữ mà còn tạo thêm thu nhập và mở ra hướng phát triển ngay tại bản làng.
Sắc chàm của người Nùng Phàn Slình xứ Lạng
[VOV4] - Người Nùng Phàn Slình ở Lạng Sơn là một nhánh địa phương của dân tộc Nùng. Ngoài tiếng nói, tín hiệu văn hóa dễ nhận biết nhất chính là sắc chàm điểm tô hoa văn có tua chỉ, tua len màu xanh nõn chuối trên trang phục.
Sắc chàm của người Nùng Phàn Slình xứ Lạng
[VOV4] - Người Nùng Phàn Slình ở Lạng Sơn là một nhánh địa phương của dân tộc Nùng. Ngoài tiếng nói, tín hiệu văn hóa dễ nhận biết nhất chính là sắc chàm điểm tô hoa văn có tua chỉ, tua len màu xanh nõn chuối trên trang phục.