Nhạc cụ tre nứa của dân tộc thiểu số: Mật ngữ đại ngàn
Thứ sáu, 11:53, 01/05/2026 Hoàng Thái Hoàng Thái
VOV4-Nằm sau những tán rừng già sương phủ, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao luôn ẩn chứa những bí ẩn chưa từng được giải mã trọn vẹn. Họ không chỉ nương tựa vào đại ngàn để sinh tồn, mà còn biết cách đánh thức linh hồn của cây cỏ. Từ những thân tre, ống nứa mọc hoang dã nơi vách đá, những đôi bàn tay tài hoa đã chế tác ra những món nhạc cụ độc nhất vô nhị. Chúng không đơn thuần là thứ để tạo ra âm thanh, mà là những "thiết bị" kết nối giữa thế giới con người với thần linh, là tiếng thì thầm của rừng thẳm.
(Chương trình Tìm hiểu các DTVN phát sóng ngày 17/4/2026)

Khèn bè Pa Cô – Mật ngữ của rừng già

Nếu có dịp ngược ngàn đến vùng đất A Lưới, Thành phố Huế, bạn sẽ nhận ra người Pa Cô cất giấu một "báu vật" cội nguồn: chiếc khèn bè. Trong không gian đặc quánh của các buổi lễ tế thần hay những đêm hội làng, tiếng khèn bè vang lên như một thứ mật ngữ mà chỉ những người con của núi rừng mới thấu hiểu. Nó quy tụ sức mạnh của cồng chiêng, tù và, trở thành vật dẫn linh hồn không thể thiếu.

Già làng Hồ Văn Hạnh, một người Pa Cô sống tại xã A Lưới 1 hé lộ một phần bí thuật chế tác loại nhạc cụ này:

"Khèn đồng bào Pa Cô giống như khèn của Thái, khèn này là nứa người ta trồng. Muốn để làm khèn người ta phải chờ đến cây già. Trong bụi mình chọn cây nào đẹp thì mình lấy và phơi khô. Khèn 14 ống nhưng mà nốt thì 12. Một nốt đối diện với một nốt khi đó mới tốt, mới đúng âm. Cái bầu này làm bằng gỗ, không phải là gỗ cứng lắm nhưng mà đây gỗ vừa vừa, mềm dễ làm nhưng không nứt. Tất cả các ống này đều có lưỡi đồng gắn vào, không có lưỡi đồng thì không kêu."

Những vật liệu ngỡ như mộc mạc, thô sơ ấy qua khối óc và sự am tường tự nhiên của các nghệ nhân đã hóa thành muôn vàn loại nhạc cụ. Mang trong mình một sự kiêu hãnh ngầm, già làng Hồ Văn Hạnh tự hào chia sẻ thêm: "Rất là tự hào vì đây là một bản sắc riêng của dân tộc mình. Vừa rồi tham gia tại Hội chợ quốc tế Hà Nội, tôi cũng mang cái khèn này để múa và trưng bày để du khách trong và ngoài nước hiểu được bản sắc dân tộc."

Khèn Mông – Nghệ thuật sắp đặt âm thanh tâm linh

Rời miền Trung nắng gió tiến về những đỉnh núi mờ sương ở phía Bắc, với người Mông, cây khèn mang một quyền năng tối thượng. Nó là biểu tượng, là cầu nối tâm linh, là thanh âm tiễn đưa người khuất núi và cũng là khúc hoan ca gọi bạn tình giữa chợ phiên.

Làm ra một chiếc khèn Mông là cả một nghệ thuật sắp đặt âm thanh đầy tính toán học, truyền từ đời này qua đời khác như một bí kíp gia truyền. Tại xã Sín Chéng, tỉnh Lào Cai, anh Giàng A Khai – một nghệ nhân chế tác khèn – đã vén bức màn bí mật về quá trình chọn lựa những đốt tre mang linh khí:

"Tre mình phải chọn khúc to đều nhau và cái khoảng cách của mẩu tre hai phân trở lên. Ống to sẽ kêu già hơn, bé hơn thì sẽ kêu nhẹ hơn. Nếu như non quá sẽ không dùng được lâu, thông thường ai cũng thích nứa già khoảng 5 năm trở lên. Khi mình chặt về rơi vào tầm khoảng hơn một tháng phơi nắng mới làm được, nếu chưa khô làm sẽ bị mốc và hỏng."

Đàn môi Khơ Mú – Tần số vô hình trong đêm tối

Có những âm thanh vang rền cả góc núi, nhưng cũng có những thanh âm nhỏ bé đến mức phải nín thở mới nghe thấu. Đó là đàn môi bằng nứa của người Khơ Mú. Họ không dùng kim loại, họ mượn sức rung của cật tre ép vào bờ môi để tạo ra một dải âm thanh vô hình trong đêm tối.

Đàn môi không phải để biểu diễn cho đám đông; nó là loại mật mã riêng tư, là tiếng gõ cửa trái tim của những đôi trai gái đang độ yêu đương. Ông Lữ Văn Lâm ở xã Hữu Kiệm, tỉnh Nghệ An giải mã quy luật hoạt động của thứ nhạc cụ kỳ lạ này:

"Đàn môi nó ngắn bằng tre, người Khơ Mú khi đi tán gái người ta đến đầu giường ký hiệu bằng đàn môi. Người ta làm 2 cái, kỷ niệm em một, anh một. Anh đánh ở ngoài kia để em đối đáp thế nào, có khỏe hay không. Tự người ta biết âm thanh của người kia nói cái gì. Có ở nhà hay không người ta biết qua dấu hiệu, nếu em ở nhà em sẽ đối đáp bằng đàn môi."

Sáo Mông – Thiết bị xuyên không gian và nhịp điệu ngẫu hứng

Nếu khèn là linh hồn của các nghi lễ, thì sáo lại là thứ ma thuật thao túng không gian của người Mông. Trước khi các thiết bị vô tuyến xuất hiện, sáo Mông chính là "thiết bị" liên lạc xuyên qua những bức tường trình tường dày cộp. Anh Giàng A Hải ở xã Sín Chéng, tỉnh Lào Cai chia sẻ:

"Trong giai đoạn cộng đồng người Mông đang ở những ngôi nhà tường đất, khi một người con trai muốn gọi bạn tình ra ngoài trò chuyện, chỉ cần nghe tiếng sáo vi vu ở ngoài là người con gái sẽ nhận ra tín hiệu và sắp xếp thời gian ra gặp gỡ."

Tiếng sáo Mông dội thẳng vào tiềm thức, mang vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên lẫn những khao khát hoang dại nhất của con người. Nghệ thuật thổi sáo Mông không dựa trên văn bản nốt nhạc nào mà là một sự "nhập thần". Sự ngẫu hứng đầy quy luật đó được nghệ nhân Vừ Mí Chá ở tỉnh Tuyên Quang lý giải:

"Khi nghe được giai điệu đó thì mình phải thuộc thành bài. Bài đó có thể sẽ thành bài dân ca hoặc thành bài tự sự của người Mông. Những bài tự sự có nghĩa là tự mình thổi được, còn những bài dân ca thường sẽ dùng cho 2 người."

Hệ thống nốt nhạc của sáo Mông vô cùng phức tạp. Theo ông Giàng Seo Gà ở phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai: "Sáo Mông truyền thống tổng số có 7 nốt. Nhưng khi mà người ta phối khí thì lại sinh ra 3,4 nốt phối khí khác, bắt buộc phải có nốt riêng."

Không chịu bó hẹp trong những luật lệ cổ xưa, cây sáo Mông ngày nay đã được cải tiến để vươn ra thế giới, thể hiện được cả những tiết mục âm nhạc đương đại và bác học.

Phía sau những ống tre, thân nứa tưởng chừng câm lặng nơi rừng sâu là cả một hệ thống tín hiệu, một thế giới âm thanh đầy rẫy những bí ẩn chờ con người khám phá. Đó chính là những thanh âm kỳ bí, làm nên bản sắc không thể phai mờ của đại ngàn.

Hoàng Thái

Viết bình luận

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC